News Archive

Ghi Chép Trong Phiên Dịch

Ghi chép là một kỹ thuật rất quan trọng đối với người phiên dịch. Tuy nhiên nhìn lại quy trình dịch, Nghe để dịch: Process of Interpreting), chúng ta thấy ghi chép (note-taking) không được đề cập đến. Điều này thật rõ ràng khi quy trình ấy bắt đầu bằng sự nghe hiểu (understanding) thông điệp rồi phân tích (analysis) thông điệp và cuối cùng là tái tạo văn bản (re-expression). Để làm được điều này, người phiên dịch cần viện đến khả năng ghi nhớ (memory). Ghi chép (note-taking) chỉ là một kỹ thuật hỗ trợ chứ không thay thế được trí nhớ. Vì thế, người phiên dịch ghi chép giỏi nhất thế giới không phải là người dịch giỏi nhất thế giới. Tuy nhiên kỹ thuật ghi chép là một kỹ thuật không thể thiếu được.

Người phiên dịch song song (simultaneous interpreter) thường phải đương đầu với những bài nói khoảng từ 15 đến 30 phút, và thông thường phải bám sát diễn giả nên ít có cơ hội ghi chép. Những ghi chép của người dịch song song thường là những clues (từ gợi nhớ) và những con số. Người phiên dịch khi dịch đuổi có thuận lợi hơn là sau một đoạn diễn giả dừng lại để dịch, tạo cơ hội cho người phiên dịch nhìn lướt lại bản ghi, Trừ những trường hợp diễn giả nói ngắn khoảng 50 từ, người phiên dịch có thể không cần ghi chép hoặc chỉ ghi con số mà chủ yếu dựa vào trí nhớ của mình. Tuy nhiên trong hội nghị, hoặc khi tranh luận, diễn giả thường muốn nói hết một ý của mình rồi mới dừng lại, lúc đó lời nói đã kéo dài đến khoảng gần hoặc trên một nghìn từ. Người phiên dịch khó mà đảm bảo dịch đầy đủ, chính xác và trung thành nếu không ghi lại một vài điều trên giây.

Ghi chép đối với những người đã nhiều năm kinh nghiệm trong nghề dịch thường không quan trọng, vì khi lời nói dừng lại thì trong óc người dịch đã có đầy đủ một bản ghi đã được giải mã sang TL. Nhưng đối với người càng ít kinh nghiệm, thâm niên dịch càng thấp thì ghi chép lại càng quan trọng hơn.

Một hiện tượng cần tránh là người phiên dịch ghi quá nhiều trong khi nghe, tức là ghi chép gần đủ lời nói của diễn giả. Bản ghi ấy trông như một bản tốc ký. Nêu giả sử lời nói của diễn giả dài 400 từ thì bản ghi ít nhất phải chiếm cả một trang giấy A4. vấn đề là ở chỗ thậm chí người tốc ký chuyên nghiệp khi nhìn giấy đọc lại một mình một cách bình tĩnh cũng gặp khó khăn chứ chưa nói đến tình huống phải làm việc đó trước một đám đông đang chờ đợi mình (dịch hội nghị). Đó là chưa kể quy trình nhìn bản ghi tốc ký bằng SL và khi đọc ra lại phải đọc bằng TL. Với bản ghi không phải là tốc ký nhưng lượng thông tin quá dày đặc, người dịch sẽ bị lúng túng khi đọc lại (bằng chữ nguệch ngoạc của mình), và hơn nữa bị phụ thuộc vào bản ghi tới mức lời dịch của mình gần như bản phiên âm (transcription) của bản gốc, chứ không phải là tái tạo (re-expressing) ý tưởng của diễn giả. Ghi chép đối với người dịch đuổi không phải là lập mã lời nói SL bằng văn bản viết TL, không phải là bản chép chính tả, cũng không giống như bản ghi lời thầy giảng của một sinh viên đại học, tức là ghi lại được càng nhiều thông tin, thông tin càng chi tiết càng tốt. Bản ghi chép của người phiên dịch chỉ là những tín hiệu nhắc nhở (prompt signs)) tín hiệu liên kết các sự kiện (association of ideas) để người phiên dịch nhớ lại những điều đã ghi nhớ, không phải để tái sinh lời nói (reproduce the discourse).

Trong quy trình đào tạo phiên dịch luyện ghi chép là một loại hình bài tập cơ học (mechanical drill). Người phiên dịch được luyện ghi cái gì, và ghi như thế nào.

A. Ghi cái gì (What to note)

  • Ghi ý chính (main ideas)

Lý do cần phải ghi ý chính vì tổng hợp lại nó cho người phiên dịch một dàn bài (out­line) của lời nói. Ghi ý chính thường chi sử dụng khi diễn giả nói liền một đoạn dài (ví dụ 500,1.000 từ).

  • Ghi tên riêng (Proper names)

Thông thường khi phiên dịch, một trong những yếu tố’ gây khó khăn cho trí nhớ là tên riêng.

Tên riêng có nhiều đặc thù khiến người phiên dịch không nên dịch. (Chi tiết xem Chương 9). Khi gặp tên riêng, người phiên dịch nên ghi lại âm nghe được, và khi dịch nên phát âm lại sao cho sát vái âm của SL.

  • Ghi số liệu (Note the figures)

Trong bài nói của diễn giả, dù nhiều hay ít số’ liệu được nêu ra, người phiên dịch cũng nên ghi lại vì hai lý do:

Một là số liệu giống như các ký hiệu chứ không phải là từ, nó không mang một khái niệm, một quan điểm hay một hình ảnh, do đó rất khó nhớ.

Hai là, số liệu ở các ngôn ngữ thường được ghi bằng các ký hiệu giống nhau, ví dụ: ngày tháng năm, số lượng, số đo, V.V., vì thế việc ghi lại rất đơn giản, chỉ như một động tác chép lại, không cần chuyển mã (transcoding).

  • Ghi liệt kê (Note the lists) 

Nói đến liệt kê chúng ta thường nghĩ đến danh sách một loạt các vật thể như các mặt hàng (good items). Tuy nhiên dưới góc nhìn của người phiên dịch, liệt kê bao gồm nhiều bình diện khác nhau:

Liệt kê các vật thể.

Ví dụ: All the sleeping things: primrose, baby iris, blue phlox.

Liệt kê các màu sắc.

Ví dụ: I want gravels of such colours as pink, light red, light blue, purple, marine.

Liệt kê một loạt hành động.

Ví dụ: I did look. She held out her arms and cocked her head, and I blinked in the sunlight which all at once shining into my eyes and dazzling me,…

Liệt kê các địa điểm.

Ví dụ: During my stay in the United Kingdom, I have visited a lot of places: Oxford, Swindon, Bristol, Exeter in the southwest of England, and Southamton, Brighton, Folkestone, Dover in the southeast of England.

Người phiên dịch ghi chép càng đầy đủ bao nhiêu càng tốt, vì rất hiếm người có thể ghi nhớ được một liệt kê dài. Ngay cả những trường hợp tuy liệt kê rất ngắn, nhưng khó nhớ, người phiên dịch cần ghi chép đầy đủ. Ví dụ:

Mann: How did he get his name ?

Bumble: I gave it to him. We follow the alphabet. The last one was an S- Swubble. Then it was T, so this one is Twist. The next one will be Unwin. Anyway, Oliver Twist is now old enough to return to the workhouse…

(Oliver Twist: 3-4)

Rõ ràng trường hợp này người phiên dịch cần những clues như:

S – Swubble

T – Twist u – Unwin

Kỹ thuật ghi chép các liệt kê giống như kỹ thuật ghi con số. Nếu diễn giả đưa ra nhiều liệt kê quá, và nói với tốc độ tự nhiên, đương nhiên người phiên dịch không thể ghi được đầy đủ, nhưng ít ra cần phải biết mình ghi được đầy đủ tới mức nào: ghi được bao nhỉêu trong tổng số, ví dụ 3/5 hoặc 5/6, v.v. Trong trường hợp này, với sự nhạy cảm thông qua nghe, người phiên dịch xác định xem có cần phải yêu cầu người nói nhắc lại danh sách đó không (trường hợp dịch đàm phán, diễn đàn).

Ghi những yếu tố kết nối (Note the links) Khi người phiên dịch đã nắm được những ý chính trong một bài diễn văn thì điều quan trọng là có nắm được mối quan hệ giữa chúng không. Trên thực tế, có những diễn giả bộc lộ tính logic rất rõ ràng giữa những ý chính. Nhưng cũng có nhiều diễn giả, mối quan hệ giữa các ý chính không rõ ràng, do tổ chức của bài nối. Chẳng hạn có nhiều người hay nói hàng loạt sự kiện, sau đó lại quay lại từng sự kiện nhưng không theo trật tự logic nào cả. Trong những trường hợp này ghi chép mối liên kết giữa các ý tưởng sẽ giúp người phiên dịch đỡ lúng túng. Một khi người dịch đã lúng túng thì thường dẫn đến lời dịch sẽ loanh quanh, rời rạc, đôi khi khó hiểu. Những yếu tố’ liên kết thường thể hiện bằng những từ như but, on the contrary, therefore, since,…

B. Ghi như thế nào (How to note)

Nhiệm vụ của người phiên dịch là dịch chính xác, đầy đủ và trung thành với diễn giả. Để đạt được mục đích này, người phiên dịch cần ghi chép: ý chính và các ý chi tiết ” ngay trong khi đang nghe. Khi diễn giả dừng lại, bản ghi đó trở thành sự hỗ trợ cho trí nhổ. Vấn đề ở đây là ghi sao cho dễ nhìn, dễ đọc. Vậy có hai cách ghi thông thường nhất: một là cách dùng sơ đồ (diagram), và hai là cách ghi theo chiều thẳng đứng (verticality)

  • Sơ đồ (Diagram)

Trong một đoạn nối của diễn giả (tính cho đến khi dừng lại để dịch) cố bao nhiêu ý chính thì sẽ có bấy nhiêu sơ đồ trên. Có thể có sơ đồ rất đơn giản nếu chỉ có ý chính, không cố thông tin chi tiết bổ sung cho ý chính.

  • Ghi từ trên xuống (Verticaỉity)

Trong cách ghi này, những ý chính được ghi sát lề bên trái, các ý phụ trợ ghi thụt vào trong sang phía tay phải.

____________________ Main idea-l

………………………………… supporting idea 1

………………………………… supporting idea 2

____________________ Main idea 2

……………………………….. supporting idea 1

………………………………… supporting idea 2

………………………………… supporting idea 3

Trong kỹ thuật ghi từ trên xuống dưới theo chiều thẳng đứng, chúng ta không những cần giãn dòng để bản ghi trông không dày đặc quá, nhưng đồng thời cũng là để chỗ để có thể điền thêm ý (chủ yếu là ý chi tiết) nếu cần thiết. Ví dụ: nghe một câu chúng ta có bản ghi như sau:

She …… all…… tests … given

Nếu chúng ta muốn chèn thêm wants to do thì làm như sau:

She…… all……. tests… given

wants… to do

Tiếp theo, muốn chèn thêm ý phủ định, chúng ta ghi như sau:

She…… all…… tests … given

wants… to do

not

Kỹ thuật chèn thêm như trên có tên gọi là shifting. Kỹ thuật này tạo ra một hình ảnh dễ nhận biết khi người phiên dịch liếc nhìn lại để dịch. Nó tạo-ra một hiệu quả leo thang, gọi là a staircase effect.

Ngoài ra trong bản ghi người phiên dịch thường cần phải làm rõ những ý cần nhấn mạnh (emphasis) và những ý đang thảo luận (under debate). Những yêu cầu này thường xảy ra trong các cuộc đàm phán hoặc tranh luận về quan điểm. Hai bên (hoặc nhiều hơn) đưa ra quan điểm của mình. Khỉ nghe diễn giả trình bày, người phiên dịch cần nắm bắt được những ý diễn giả nhấn mạnh, vì đó là những ý mà diễn giả cho là sẽ có khả năng thuyết phục. Người phiên dịch phải dùng ngay ký hiệu để đánh dấu những ý này. Ký hiệu thường dùng là gạch dưới (underlining lines)

nhấn mạnh

=======         nhấn mạnh đặc biệt

Đối với những ý tưởng, quan điểm diễn giả nêu ra nhưng nhiều người khác chưa nhất trí, do đó sẽ có nhiều người nhắc đến ở các góc độ khác nhau để tranh luận, người phiên dịch cần ghi lại bằng (các) dấu hỏi.

? đặt ra vấn đề để thảo luận

??? còn nhiều người chưa nhất trí

  • Ký hiệu

Khi nói đến ghi chép, người phiên đích không thể bỏ qua cách sử dụng ký hiệu. Có hai loại ký hiệu: một là những ký hiệu phổ quát, và hai là ký hiệu cá nhân sử dụng.

Ký hiệu phổ quát là những ký hiệu đã trở thành hình ảnh chung mà ai nhìn thấy cũng hiểu ý nghĩa của nó. Ví dụ:

T increase, develop. E.g. population t, Vietnam t

4 reduction, decline. E.g income Jr

/ or. E.g. husband/wife

—> lead to . E.g. flood —> diseases

— equal to. E.g. 16 ounces – 1 pound = 0.4536kg

# as well/good as. E.g. his record # first.

± approximately. E.g. ± 30% population

+ add to. E.g. + manioc

? under debate, not being solved, unemployment?

not including, extract. E.g. – maize crop

interaction. E.g. A <->B

X get rid of

® parking place

Trong loại ký hiệu phổ quát, kể cả những cách viết tắt, những từ viết tắt đã trở thành hệ thống, đã được chấp nhận trong một cộng đồng (ví dụ: trong một loại dự án nào đó), hoặc trên toàn thế giới. Ví dụ:

abbr.   abbreviation

  1. noun(s)

syn.     synonym(s)

Ngoài ra có những chữ viết tắt đã trở thành một từ, gọi là acronym, mà người sử dụng nhiều khi chỉ hiểu nghĩa của từ viết tắt ây, chứ không biết đến từ đầy đủ của nó. Ví dụ:

GDP   (Gross Domestic Product)

LC       (Letter of Credit)

GMT   (Greenwich Mean Time)

và rất nhiều các từ chỉ tên các tổ chức quốc tế như:

UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization)

Ký hiệu cá nhân là loại ký hiệu do chính mình tạo ra để ghi chép. Ví dụ:

y*                next year. E.g. ỉmil.y* (in 1 million years’ time)

*y                last year. E.g. 15*y (fifteen years ago)

/—– Ị          a long time

/—/             a short time

0                    focus, important point

□                country

A                representative

©                prevent, cause difficulties, obstacle

*                 agriculture

Loại ký hiệu cá nhân thường rất phong phú, những người sáng tạo và sử dụng cũng cần thận trọng vì phải sáng tạo và sử dụng một cách có hệ thống. Hay nói cách khác hãy tạo ra một hệ thống ký hiệu riêng cho mình. Nêu chỉ là những ký hiệu bột phát thì nay nhớ mai quên, và thường là sau một thời gian ngắn, một vài ngày đã có thể quên, ảnh hưởng đến quy trình gợi nhớ. Có những ký hiệu bột phát dùng ở đoạn này, sang đoạn khác đã lại quên.

Trong loại ký hiệu cá nhân người ta kể cả những ước lệ cho chính mình, ví dụ khi ghi chép một từ thì chỉ ghi những con chữ đứng đầu, ví dụ như:

cooperative           coop

struggle                Strug

emergency           emer.

hoặc ghi những con chữ đầu và cuối, ví dụ như:

years                   ys

economics          emics

government        govt

Hoặc cố những người sử dụng cả hai cách, vấn đề ở đây là chúng ta hãy tự quy ước cho mình một cách viết tắt từ/nhóm từ, và sử dụng chúng một cách thành thạo và nhất quán.

  • Ngôn ngữ dùng để ghi chép (Language in which to note)

Trong quy trình huấn luyện phiên dịch, một câu hỏi thường được đặt ra là ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn (SL) hay ngôn ngữ mục tiêu (TL)? Người phiên dịch người Việt thường lúng túng khi phải quyết định ghi bằng tiếng Việt hay tiếng Anh.

Ghi chéo bằng ngôn ngữ nguồn:

Ghi chép bằng tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ nguồn (dịch Việt-Anh) có những thuận lợi như sau:

  • Người dịch có thể ghi chép liên tục không bị cản trở bởi quy trình dịch trong khi ghi chép. Cuối lời phát biểu của diễn giả, người dịch có một bản ghi tương đối đầy đủ theo ý mình.
  • Bản ghi chép giúp cho người dịch chuyển sang tiếng mục tiêu (tiếng Anh) một cách ung dung hơn. Trong trường hợp diễn giả sử dụng từ hoặc khái niệm mang đặc thù văn hoá thì người dịch có thời gian suy nghĩ để tìm tương đương hoặc tìm cách dịch giải thích (explanation technique):

Tuy nhiên có những điều không thuận lợi là:

  • nghe được hầu hết (có thể là 100%) nội dung thông điệp nên người dịch có xu hướng ghi từ (words), chứ không ghi ý (ideas),
  • Cũng vì nghe được đầy đủ nên người dịch nhiều khi “ghi tham”, ghi quá nhiều, làm cho bản ghi trông rối mắt, nặng nề.
  • Với bản ghi như vậy khi dịch người dịch thường mắc phải lỗi dùng metaphrase (dịch từng từ), đồng thời bị phụ thuộc khá nhiều vào cấu trúc câu của tiếng Việt, làm cho văn phong bản dịch (tiếng Anh) trở nên “Việt” quá.

Ghi chép bằng ngôn ngữ mục tiêu‘.

Ghi chép bằng tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ mục tiêu (dịch Việt-Anh) có những thuận lợi như sau:

(i). Quá trình ghi chép đồng thời là quá trình dịch.

(tí). Tuy có thể nghe đầy đủ nội dung bằng tiếng Việt, nhưng để ghi bằng tiếng Anh, người dịch không thể ghi tham và cũng không thể ghi từ. áp lực ghi chép với tốc độ nhanh làm cho người dịch phải ghi ý {ideas}.

  • . Với một bản ghi thực sự chỉ hỗ trợ trí nhớ mà thôi, khi dịch người dịch phát huy được hết năng lực dịch: ghi nhổ {memory), chuyển ý, khổng chuyển từ {transfer sense equivalents, not word equivalents), cấu tạo lại thông điệp {reconstruct the speech),v.

Kinh nghiệm của nhiều phiên dịch đã thành công trong nghề nghiệp chỉ ra rằng dù sử dụng ngôn ngữ gì để ghi chép thì cũng chỉ tạo ra một văn bản hỗ trợ. Tất nhiên mức độ hỗ ượ khác nhau. Nhưng dù mức độ lớn đến đâu thì một bản ghi nhanh như vậy vẫn không thể bao quát được cả từ, ý và ngữ pháp (cấu trúc câu, cấu trúc đoạn,…). Do đó người phiên dịch nên xác định cho mình một hướng đi: dùng SL hay TL và thậm chí xu hướng chung là sử dụng cả hai. Cái gì đến ưong đầu trước thì ghi cái đó. Hiệu quả không phụ thuộc vào bản ghi mà chủ yếu phụ thuộc vào khả năng sử dụng bản ghi để dịch của người phiên dịch.

  • Ghi vào lúc nào

Để có thể ghi được ý, chứ không ghi từ, người phiên dịch trước hết phải hiểu được thông điệp. Như vậy không thể ghi ngay khi diễn giả bắt đầu nói, mà phải ghi sau một vài câu, tức là ghi vào lúc người dịch đã hiểu trọn vẹn một ý. Chúng ta cần luôn luôn nhớ một điều: trong dịch đuổi, diễn giả nói một đoạn (hoặc dài hoặc ngắn, nhưng ít ra cũng phải từ 5 đến 10 câu, nghĩa là khoảng từ 5-10 dòng viết) rồi dừng lại và khi diễn giả dừng lại người dịch phải dịch ngay. Vì thế mọi hoạt động ghi chép chỉ được phép tiến hành trong quá trình diễn giả đang nói. Vậy ghi chép sau vài câu so với diễn giả sẽ gây khó khăn cho người dịch, nhất là những phiên dịch mới vào nghề, ở chỗ vừa phải nhớ lại để ghi những câu diễn giả vừa nói qua, đồng thời vẫn phải nghe tiếp để hiểu được những câu sau đó. Ghi chép kịp, không để bị bỏ rơi (left behind), nghĩa là người phiên dịch luôn luôn phải điều chỉnh giữa timingtaking notes.

Một điều cần chú ý là trong nội dung ghi chép người phiên dịch phải dành ưu tiên cho ghi con số’ (number) và những liệt kê (lists). Vì thế khi linh cảm rằng diễn giả sắp đưa ra con số hoặc liệt kê thì người dịch phải ngay lập tức bám sát diễn giả để ghi.

Sau mỗi lần đi dịch, người phiên dịch nên dành cho mình một ít giờ phút để nhìn lại cuộc dịch vừa qua. Đó là một kiểu tự kiểm điểm (review), để nhớ lại những thành công cũng như những điểm mình thấy chưa hài lòng, những việc cần điều chỉnh, và cả những thất bại, nếu có. Khi review, người phiên dịch thường tập trung vào những điểm sau đây:

  1. Xem xét, chỉnh sửa những ký hiệu cá nhân (Revise the individual symbols). Đây , là những ký hiệu mình tự tạo ra. Nếu trong quá trình sử dụng phát hiện ra có điều gì không chính xác, không thuận tiện thì tìm phương án sửa lại, hoặc bỏ đi, thay thế.
  2. Cộng thêm những ký hiệu mới, cách viết tắt mới (Add new signs & abbrevia­tions) phát hiện, học hỏi được trong quá trình dịch.
  3. Rút ra những khó khăn khi nghe hiểu và ghi chép để tìm phương án luyện thêm theo các kỹ thuật hiện đại (Practise listening & taking notes).

——————————————————
Dịch thuật Quốc tế Sao Khuê
📞 090 558 36 89
🌏 https://dichthuatsaokhue.vn/ sktranslate.com
🏢 Tòa nhà Talico , 22 Hồ Giám, Đống Đa, Hà Nội
💞💞💞

Tư vấn miễn phí